 |
| Ishikawa Sanshiro |
Viết theo âm
Hán Việt là Thạch Xuyên Tam Tứ Lang (石川三四郎)
Ishikawa
Sanshiro sinh ngày 23 tháng 5 năm 1876 tại Saitama, Nhật Bản.
Là một nhà đấu
tranh chính trị và hoạt động xã hội ở Nhật Bản trong giai đoạn chuyển hoá
nhanh kèm với nhiều bối rối để trở thành một quốc gia hiện đại.
Ông theo
ngành triết học và luật ở Đại học Tokyo. Năm 1903, ông tham gia Hội Heimin
Sha – được xem là một tổ chức của những người chủ trương vô chính phủ.
Vào thời điểm này, ông đã viết nhiều bài báo chống lại cuộc chiến tranh Nga-Nhật.
Tuy nhiên trong thời gian này, Sanshiro tỏ ra rất gần với chủ nghĩa xã hội Cơ
đốc giáo hơn là khuynh hướng vô chính phủ.
Với quan
điểm xã hội Cơ đốc giáo, Sanshiro trở thành tổng biên tập của tạp chí
Shin Kigen (Thời đại mới) cũng do ông thành lập vào năm 1905. Sau đó, ông
cũng làm biên tập cho các tạp chí Sekai Fujin (Thế giới phụ nữ) và
Heimin Shinbun. Ishikawa từng bị bỏ tù nhiều lần vì các vận động cải cách
xã hội của ông.
Mặc dù
được nhìn nhận cùng với Kotoku Shusui và Osugi Sakae - là một trong những
người chủ trương vô chính phủ hàng đầu của Nhật Bản. Nhưng không giống như hai
người kia đưa cuộc vận động vào tầng lớp vô sản công nghiệp; Ishikawa tập
trung vào cuộc khủng hoảng sinh thái gây ra bởi chủ nghĩa tư bản công nghiệp.
Tiếp tục
con đường đấu tranh, Sanshiro đã đến Pháp vào năm 1913.
Năm 1920, từ
Âu châu ông trở về Nhật Bản. Sống cùng nông dân ở một ngôi làng nhỏ gần
Tokyo, vào năm 1927 ông đã thành lập Hiệp hội Dinamikku (Hiệp hội giáo dục
và tương trợ). Đặc biệt đam mê lịch sử cổ đại Đông phương, Sanshiro
Ishikawa đã nghiên cứu và phân tích nhiều vấn đề đến mức được xem là
một lý thuyết gia, với nhiều tác phẩm xuất bản trong lãnh vực này từ
những năm 1930.
Sau Đệ Nhị
thế chiến, Ishikawa đã gia nhập Liên đoàn vô chính phủ Nhật Bản. Vào tháng 5/1946,
Sanshiro được đề cử làm cố vấn của tổ chức này.
Sanshiro
Ishikawa qua đời vì một cơn đột quỵ ngày 18/11/1956.
Là một nhà hoạt
động trong sự cố ô nhiễm công nghiệp lớn đầu tiên của Nhật Bản trong những năm
1890, ông chống lại quan điểm cho rằng các sinh vật đã tiến hóa để phù hợp
với môi trường của chúng – do học thuyết Darwin đưa ra.
Phản đối
lý thuyết "chọn lọc tự nhiên"; Ishikawa nhấn mạnh vai trò của ý
chí, phát triển một lý thuyết về "dôtai shakai bigaku” (xã hội thẩm mỹ
năng động). Xã hội thẩm mỹ năng động là một hệ sinh thái xã hội từ chối sự
xác định bên ngoài trong khi vẫn cho phép các kích thích bên ngoài: là đối tượng
di chuyển trong một thế giới các vấn đề rung động. phong trào này chính nó sẽ
tạo ra tiện ích cộng hưởng, một cách tự nhiên tạo thành hòa âm mới và tổ chức
xã hội lành mạnh, một "bản giao hưởng vũ trụ” (cosmic symphony).
Ishikawa tin
rằng lý tưởng cho cuộc sống và số phận của con người là sự phát triển
trong tinh thần tự do một cách tự giác. Quan điểm chính trị và triết
học của Ishikawa nhấn mạnh nguyên tắc nhân văn. Tư tưởng của Ishikawa còn
chống đối hình thức kiểm soát nhà nước bằng một lãnh tụ độc tài;
đặc điểm này khiến vài hậu sinh sau này nhầm lẫn Ishikawa với một
người chủ trương vô chính phủ. Ishikawa là một trường hợp đặc biệt của
Nhật Bản với các chủ trương tiên phong về nghiệp đoàn độc lập và
nhân viên tự quản lý (worker self-management) của ông ấy.
Các tác
phẩm chính:
+ Domin
seikatsu 土民生活, Tokyo: N.n., 1920 [Shakai shugi].
+ Bareisho
kara tomato made 馬鈴薯からトマトまで, Tokyo: N.n., 1923
[Warera].
+ Hyakusyo
nikki 百姓日記, Tokyo: N.n., 1926 [Aozora].
+ Warera no
shimei 吾等の使命, Tokyo: N.n., 1926 [Nomin jichi].
+ Hannomin
seikatsu no mure ni hairu made 半農民生活者の群れに入るまで, Tokyo: N.n., 1927
[Yomiuri shinbun].
+ Shakaiteki
bungyo ron 社会的分業論, Tokyo: N.n., 1931
[Dinamikku].
+ Nohon shugi
to domin shiso 農本主義と土民思想, Tokyo: N.n., 1932 [Dinamikku].
+ Nomin jichi
no riron to jitsai 農民自治の理論と実際,
Tokyo: Aodo sha, 1977.
+ Nami 波,
Tokyo: N.n., 1948 [Heimin shinbun].
Tại Việt
Nam, trong văn bản “Tiểu luận Muses”, ông Lý Đông A có trích
dẫn ý tưởng “[…]và loài người trong đời sống cũng như không ỷ vào lý tưởng
thì không thể nở hoa được”, được chép là của ông Thạch Xuyên San Tứ Lang.
Trong giới
nghiên cứu, đã có người hiệu đính tài liệu “Tiểu luận Muses” –
nhưng gặp trở ngại về trường hợp ông Thạch Xuyên San Tứ Lang.
Thạch Xuyên
San Tứ Lang chính là Thạch Xuyên Tam Tứ Lang. Vấn đề gút mắc ở đây
là: tại sao “San” còn được hiểu là “Tam” ?
Vì chữ (三)
đọc theo đúng phiên âm là [sān], đọc theo âm Hán Việt mới là [tam]. Đây
là một trường hợp khá thú vị đối với những người nghiên cứu ngôn
ngữ học (linguistics) về văn học Việt đầu thế kỷ XX.
© Copyright Huynh Viet Lang 2016