Thứ Hai, 3 tháng 10, 2016

Gạo Việt Nam nhập bị trả - trách nhiệm do Bộ Nông nghiệp và…

Thông tin từ Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA), chỉ tính riêng trong 4 tháng đầu năm 2016, đã có 95 container (tương đương với hơn 1.700 tấn) gạo Việt Nam nhập bị Mỹ trả về. Trong đó gồm gạo thơm jasmine, gạo tấm jasmine, gạo lứt và gạo trắng chất lượng cao.

Tình trạng sản phẩm gạo xuất khẩu bị Mỹ từ chối này đã có cách đây nhiều năm. Tính từ năm 2012 đến tháng 8/2016, có tổng số 16 doanh nghiệp xuất khẩu gạo Việt Nam sang thị trường này bị trả gạo về, với tổng số 412 container, tương ứng gần 10.000 tấn gạo.

Báo Việt Nam (tờ vneconomy) chỉ đăng lý do là trong gạo Việt Nam có 8 hoạt chất vượt mức giới hạn cho phép, và 8 hoạt chất này đều có trong danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng ở… Việt Nam. Báo chí Việt Nam bỏ qua thông tin từ phía FDA nêu: 5 trong số các hoạt chất đó chưa có quy định giới hạn cho phép đối với hoạt chất bảo vệ thực vật trên thực phẩm ở Hoa Kỳ.

Soạn thảo và ban hành một “Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng” lạc hậu và dẫn đến thiệt hại kinh tế là sai phạm của Bộ Nông nghiệp Việt Nam. Ngoài ra, công bố một thông tin quan trọng mà không trọn vẹn – đến mức khiến người đọc nhầm lẫn là lỗi thuộc về báo chí. Mấy anh làm ăn bết quá !!!





Mặc dù hiện nay thị trường Mỹ chỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ trong lãnh vực xuất khẩu gạo Việt, nhưng phải thấy rằng đây là một thị trường cao cấp mà nền Nông nghiệp Việt Nam cần hướng tới.

Thứ Bảy, 9 tháng 1, 2016

Hai con sói trong mỗi người


Đó là trận chiến khốc liệt giữa hai con sói.


... và cái tôi.


... niềm tin.



Và trong mỗi chúng ta. 


(theo The Meta Picture)

 ----------------------------------------------

Thứ Năm, 7 tháng 1, 2016

Ishikawa Sanshiro (魂の導師)



Ishikawa Sanshiro

Viết theo âm Hán Việt là Thạch Xuyên Tam Tứ Lang (石川三四郎)

Ishikawa Sanshiro sinh ngày 23 tháng 5 năm 1876 tại Saitama, Nhật Bản.

Là một nhà đấu tranh chính trị và hoạt động xã hội ở Nhật Bản trong giai đoạn chuyển hoá nhanh kèm với nhiều bối rối để trở thành một quốc gia hiện đại.

Ông theo ngành triết học và luật ở Đại học Tokyo. Năm 1903, ông tham gia Hội Heimin Sha – được xem là một tổ chức của những người chủ trương vô chính phủ. Vào thời điểm này, ông đã viết nhiều bài báo chống lại cuộc chiến tranh Nga-Nhật. Tuy nhiên trong thời gian này, Sanshiro tỏ ra rất gần với chủ nghĩa xã hội Cơ đốc giáo hơn là khuynh hướng vô chính phủ.

Với quan điểm xã hội Cơ đốc giáo, Sanshiro trở thành tổng biên tập của tạp chí Shin Kigen (Thời đại mới) cũng do ông thành lập vào năm 1905. Sau đó, ông cũng làm biên tập cho các tạp chí Sekai Fujin (Thế giới phụ nữ) và Heimin Shinbun. Ishikawa từng bị bỏ tù nhiều lần vì các vận động cải cách xã hội của ông.

Mặc dù được nhìn nhận cùng với Kotoku Shusui và Osugi Sakae - là một trong những người chủ trương vô chính phủ hàng đầu của Nhật Bản. Nhưng không giống như hai người kia đưa cuộc vận động vào tầng lớp vô sản công nghiệp; Ishikawa tập trung vào cuộc khủng hoảng sinh thái gây ra bởi chủ nghĩa tư bản công nghiệp.

Tiếp tục con đường đấu tranh, Sanshiro đã đến Pháp vào năm 1913.

Năm 1920, từ Âu châu ông trở về Nhật Bản. Sống cùng nông dân ở một ngôi làng nhỏ gần Tokyo, vào năm 1927 ông đã thành lập Hiệp hội Dinamikku (Hiệp hội giáo dục và tương trợ). Đặc biệt đam mê lịch sử cổ đại Đông phương, Sanshiro Ishikawa đã nghiên cứu và phân tích nhiều vấn đề đến mức được xem là một lý thuyết gia, với nhiều tác phẩm xuất bản trong lãnh vực này từ những năm 1930.

Sau Đệ Nhị thế chiến, Ishikawa đã gia nhập Liên đoàn vô chính phủ Nhật Bản. Vào tháng 5/1946, Sanshiro được đề cử làm cố vấn của tổ chức này.

Sanshiro Ishikawa qua đời vì một cơn đột quỵ ngày 18/11/1956.

Là một nhà hoạt động trong sự cố ô nhiễm công nghiệp lớn đầu tiên của Nhật Bản trong những năm 1890, ông chống lại quan điểm cho rằng các sinh vật đã tiến hóa để phù hợp với môi trường của chúng – do học thuyết Darwin đưa ra.

Phản đối lý thuyết "chọn lọc tự nhiên"; Ishikawa nhấn mạnh vai trò của ý chí, phát triển một lý thuyết về "dôtai shakai bigaku” (xã hội thẩm mỹ năng động). Xã hội thẩm mỹ năng động là một hệ sinh thái xã hội từ chối sự xác định bên ngoài trong khi vẫn cho phép các kích thích bên ngoài: là đối tượng di chuyển trong một thế giới các vấn đề rung động. phong trào này chính nó sẽ tạo ra tiện ích cộng hưởng, một cách tự nhiên tạo thành hòa âm mới và tổ chức xã hội lành mạnh, một "bản giao hưởng vũ trụ” (cosmic symphony).

Ishikawa tin rằng lý tưởng cho cuộc sống và số phận của con người là sự phát triển trong tinh thần tự do một cách tự giác. Quan điểm chính trị và triết học của Ishikawa nhấn mạnh nguyên tắc nhân văn. Tư tưởng của Ishikawa còn chống đối hình thức kiểm soát nhà nước bằng một lãnh tụ độc tài; đặc điểm này khiến vài hậu sinh sau này nhầm lẫn Ishikawa với một người chủ trương vô chính phủ. Ishikawa là một trường hợp đặc biệt của Nhật Bản với các chủ trương tiên phong về nghiệp đoàn độc lập và nhân viên tự quản lý (worker self-management) của ông ấy.

Các tác phẩm chính:

+ Domin seikatsu 土民生活, Tokyo: N.n., 1920 [Shakai shugi].
+ Bareisho kara tomato made 馬鈴薯からトマトまで, Tokyo: N.n., 1923 [Warera].
+ Hyakusyo nikki 百姓日記, Tokyo: N.n., 1926 [Aozora].
+ Warera no shimei 吾等の使命, Tokyo: N.n., 1926 [Nomin jichi].
+ Hannomin seikatsu no mure ni hairu made 半農民生活者の群れに入るまで, Tokyo: N.n., 1927 [Yomiuri shinbun]. 
+ Shakaiteki bungyo ron 社会的分業論, Tokyo: N.n., 1931 [Dinamikku].
+ Nohon shugi to domin shiso 農本主義と土民思想, Tokyo: N.n., 1932 [Dinamikku]. 
+ Nomin jichi no riron to jitsai 農民自治の理論と実際, Tokyo: Aodo sha, 1977. 
+ Nami 波, Tokyo: N.n., 1948 [Heimin shinbun].




Tại Việt Nam, trong văn bản “Tiểu luận Muses”, ông Lý Đông A có trích dẫn ý tưởng “[…]và loài người trong đời sống cũng như không ỷ vào lý tưởng thì không thể nở hoa được”, được chép là của ông Thạch Xuyên San Tứ Lang.

Trong giới nghiên cứu, đã có người hiệu đính tài liệu “Tiểu luận Muses” – nhưng gặp trở ngại về trường hợp ông Thạch Xuyên San Tứ Lang.

Thạch Xuyên San Tứ Lang chính là Thạch Xuyên Tam Tứ Lang. Vấn đề gút mắc ở đây là: tại sao “San” còn được hiểu là “Tam” ?


Vì chữ (三) đọc theo đúng phiên âm là [sān], đọc theo âm Hán Việt mới là [tam]. Đây là một trường hợp khá thú vị đối với những người nghiên cứu ngôn ngữ học (linguistics) về văn học Việt đầu thế kỷ XX.

© Copyright Huynh Viet Lang 2016

Thứ Tư, 6 tháng 1, 2016

Ando Shoeki/An Đằng Xương Ích

Ando Shoeki/An Đằng Xương Ích

Sinh năm 1703 ở Akita và mất năm 1762, là nhà tư tưởng độc đáo trong lịch sử tư tưởng Nhật, tuy thực sự phải đợi tới năm 1899 năm thứ 32 thời Minh trị (1868-1912) mới được phát hiện. Sinh thời ông theo ngành y, đã đến Nagasaki, hải cảng đầu tiên của nước Nhật để học hỏi về những phong tục xứ ngoại. Tương truyền, ông dạy học trò theo phong thái riêng, không dẫn kinh điển Trung hoa ngoại trừ để phê bình, khuyến khích môn đệ làm lao động chân tay theo người nhà nông, để tiếp cận với thiên nhiên. Chính vì lối sống riêng đó nên ông ít được biết đến. Mãi đến những năm cuối thế kỷ 19, tập bản thảo mang tên Shizen Shin Ei Do/Đường lối hoạt động của Tự nhiên may mắn lọt vào tay Kano Kochiki (1865-1942), Hiệu trưởng trường Trung học quốc gia ở Tokyo và là người sưu tầm sách cổ, quý, lại thiên về khoa học tự nhiên, Kano nhận ra bản thảo của Shoeki là một thiên khảo luận bách khoa, ông đem giới thiệu sách với bạn bè, đồng nghiệp. Kano đã viết bài Dai Shisoka Ari/Một nhà tư tưởng lớn vào năm 1908 trên tập san Naigai Kyoiku Hyoron giới thiệu tư tưởng Shoeki với công chúng. Kano còn tìm được một bản thảo khác của Shoeki To Do Shin Den/Truyền giao toàn diện Chính Đạo vào năm 1925. Kano xuất bản sách viết về Ando Shoeki của ông vào năm 1928. Một học giả người Canada sinh ở Nhật E.H. Norman (1909-1957) quan tâm đến tư tưởng chống đối qua nhiều thế kỷ phong kiến đã nghiên cứu Shoeki và viết Ando Shoeki and the Anatomy of Japanese Feudalism/Ando Shoeki và Giải phẫu chủ nghĩa phong kiến Nhật, 1949, sách được dịch sang tiếng Nhật với nhan đề nhà tư tưởng bị lãng quên/Wasurerareta Shisoka đã gây chấn động giới trí thức Nhật thời hậu chiến.

Tư tưởng Shoeki có hai mặt chính mang dấu ấn nhà tư tưởng tiền phong và độc đáo không chỉ ở thời đại ông mà cả một thế kỷ về sau. Một, tư tưởng triết học xã hội của ông, phê phán nghiêm chính giới cầm quyền; hai, tư tưởng triết học tự nhiên của ông thiên về khoa sinh thái, có thể nói là một trong những triết gia đầu tiên chú trọng đến một ngành chỉ mới phát triển vào thế kỷ vừa qua. Shoeki sớm nhận thức quá trình hủy diệt sinh thái ở thời đại ông và ông lên án hành động này. Tự nhiên theo ông là khí lực trường cửu, năng lực vật chất cần thiết; thiên nhiên không phải để chinh phục, nhưng để hiểu biết; con người thuận theo tự nhiên sẽ tìm ra lý tưởng. Tư tưởng tự nhiên của Shoeki có thể so với Lý tự nhiên (vật lý nhân luân) của Lý Chí (1527-1602) cuối thời  Minh bên Trung hoa, hay đồng tình với một nhà tư tưởng phương tây cùng thế kỷ Jean Jacques Rousseau (1712-78).

Đối với Shoeki, mọi âm thanh của thế giới tự nhiên là những ký hiệu: Không có gì trong Thiên địa/Tenchi giữa loài người, chim , thú, vật, cá, cây cỏ lại không sinh ra âm. Không có âm nào mà con người ta không thể hiểu (trong Shizen Shin Ei Do). Con người theo tự nhiên không chỉ giới hạn ở diễn ngôn của người, mà có thể hiểu mọi thông điệp của mọi vật trong tự nhiên, thông hiểu và thông giao với mọi hiện sinh. Theo Shoeki, tự nhiên, ngôn ngữ và nhân thân không tách rời nhau.Phá hoại thiên nhiên, gây xáo trộn quan hệ giữa người và tự nhiên là kết quả của những sai lầm cơ bản trong tri giác của con người về tự nhiên và ứng xử phi nhân dựa trên những lầm lẫn tri giác này. Ông cho là toàn thể nhân loại bệnh hoạn cả về tâm hồn lẫn thể xác: Không có con người chân chính, tất cả đều bệnh hoạn/To Do Shin Den, Kyu Sei Shitsu kan.

Ở thế kỷ 21 này, những báo động về sinh thái, về trái đất nóng dần, những hủy hoại tự nhiên đang diễn ra, phải chăng những nhà tư tưởng như Shoeki đã từng tiên liệu từ nhiều thế kỷ trước?


Nguồn trích: Từ điển triết học giản yếu. Đặng Phùng Quân.


Bổ sung:

Andō Shōeki:

tiếng Nhật: 安藤 昌益



Thứ Ba, 5 tháng 1, 2016

Biện chứng pháp là gì?


"Biện chứng pháp là phương pháp nghiên cứu được con người sử dụng ngay từ những bước đầu của hai nền văn học Âu Á. Và càng ngày nó càng tỏ ra hiệu nghiệm cho việc tìm hiểu thực chất của xã hội và con người, xưa kia Platon coi toán học là điều kiện tất yếu để vào học triết, và ổng đã cho ghi trên cửa trường câu "Ai không giỏi toán xin đừng vào đây (...) Biện chứng pháp xuất hiện rất sớm, có thể nói là ngay từ khi con người biết suy tưởng. Mà cũng không thể khác được: sự suy nghĩ luôn tiến bước trên hai chân cũng như con người đi đứng bằng hai chân. Suy nghĩ của ta, nhận thức của ta chỉ có thể hoặc quyết, hoặc chối, khẳng định hoặc phủ định. Nếu chỉ có khẳng định mà không có phủ định, thì tư tưởng không thể tiến được bước nào nữa, cũng như người chỉ có một chân" [1].

"Biện chứng pháp là con đường đưa tới thực tại, chứ nó không phải là tất cả thực tại. Đàng khác, nơi chữ dialectique có ý chỉ một dia, nghiã là vượt qua: cho nên biện chứng pháp là đường đi, chứ không phài là khởi điểm và cũng phải là chỗ đến".

"Chữ dialectique của Pháp do phiên âm chữ dialecktikè của Hy Lạp, và chữ này thành bởi hai chữ: dia, nghĩa là cả hai, xuyên qua và legein, nói.
Như vậy biện chứng pháp là đi từ đầu đến cuối đường, từ chỗ u minh tới chỗ sáng sủa, từ chỗ nghi hoặc đến chỗ phân minh: nó chính là con đường dẫn chúng ta đi tới như vậy. Đi tới luôn, không bao giờ dừng lại, bởi vì nó có ba nhịp:

Nhịp đầu là chính đề (khi hai chân còn liền với đất).

Nhịp hai là phản đề (khi chân đã lìa đất)

Và nhịp ba là tổng đề (khi chân lại đặt trên đất, nơi một chỗ xa hơn trước).

Rồi nhịp ba này tức khắc trở thành nhịp một cho một vận động khác tiếp theo.

Trên con đường biện chứng pháp, chính đề là nhận thức đầu tiên, phản đề là nhận thức kế tiếp và chống lại nhận thức trước: do sự cọ sát của hai nhận thức tương phản này mà sinh ra nhận thức thứ ba, vừa phủ nhận hai nhận thức trên đây, vừa giữ lại những gì là tích cực của hai nhận thức đó". [2]




[1] Trần Thái Đỉnh. Biện Chứng Pháp là gì? Nxbản Hướng Mới – 1969; trang 6.
[2] Trần Thái Đỉnh. Biện Chứng Pháp là gì? Nxbản Hướng Mới – 1969; trang 20-21.

Những mối quan hệ lợi dụng...

Nếu cần thì cứ dứt khoát cắt đứt những mối quan hệ chủ yếu là người muốn lợi dụng ta.

Nên nhớ:

"+ Nếu chỉ chăm chăm xây dựng mạng lưới quan hệ đông đảo về số lượng, bạn chỉ để ý tới lợi ích cá nhân. Trong khi đó, bất cứ mối quan hệ nào cũng cần phải sự tương tác 2 chiều mới có thể phát triển bền vững. Vì vậy, hãy cho đi một cách chân thành và chắc chắn bạn sẽ nhận lại những gì mình đáng được hưởng.

+ Việc chỉ coi trọng các mối quan hệ chỉ trong ngắn hạn sẽ khiến mọi người có cảm giác bị lợi dụng. Hãy duy trì các mối quan hệ thông qua email, điện thoại hỏi thăm. Gửi lời cảm ơn khi ai đó cho bạn lời khuyên hữu ích. Khi đã tìm được công việc, đừng cho rằng vai trò của mạng lưới quan hệ đã kết thúc, thực sự nó mới chỉ bắt đầu.


+ Đừng quên nghĩa vụ của mình: Bất cứ ai xây dựng mạng lưới quan hệ, dù thành công hay thất bại, đều có bổn phận với những người sẽ xây dựng mạng lưới quan hệ trong tương lai. Bạn nên quan tâm và giúp đỡ những hậu bối của mình." (ngưng trích)


Chóng quên là liều thuốc chữa lành nhiều nỗi đau nhưng cũng là một tật xấu đáng ghét.





Thứ Sáu, 1 tháng 1, 2016

ĐẦU NĂM NÓI CHUYỆN TRIẾT HỌC CÀ TÀNG

 Sáng mồng 1 Tết, đọc được một bài rất thích... Coi như năm nay hên.
 
Tuy nhiên, phía comment thì tôi không đồng ý:
 
"Đầu năm không nên nói chuyện buồn nhưng nói thật ra dân tộc mình không thể tìm ra được tầng lớp tinh hoa, người có học hay người lao động có nhân cách để dám làm dám chịu trách nhiệm về việc của mình. Buồn và chỉ buồn mà thôi. " 
Ai không tìm ra được, bạn hay tôi? Nhưng cho rằng "cả dân tộc mình không thể tìm ra" thì hơi kẹt, bởi cả một dân tộc mà là như thế thì có lẽ đã bị diệt vong lâu rồi...
Sáng nay, ngày đầu năm mới gặp tư vấn một bạn di dân Canada, mình chưa bao giờ khoái và muốn nói chuyện lâu như bạn này. Vì bạn ấy thấm nhuần triết học.
Trong tư vấn là làm sao tạo sự hưng phấn cho người được tư vấn, nhưng bạn này thì ngược lại, tạo cảm hứng cho người tư vấn, khi bạn ấy nhắc về kinh tế chính trị học và quy luật lượng chất. Máu triết học của tôi nổi lên và câu chuyện trở thành nóng hổi về đề tài kinh tế chính trị ở Việt Nam.
Tôi nói với bạn ấy rằng, xã hội vận động từng giờ từng phút, từng giây, nhưng sự vận động ấy phải có sự cân bằng của mọi khía cạnh xã hội. Nếu những khía cạnh ấy mất cân bằng thì sẽ phải tự điều chỉnh để cân bằng. Có 2 cách tự điều chỉnh:
1. Kẻ mạnh điều chỉnh kiểu già néo đứt dây để được phần mình, thì sự mất cân bằng sẽ đi đến chỗ phá vỡ sự cân bằng mong manh, tạo thế cân bằng khác, và xã hội có cuộc cách mạng xảy ra theo quy luật lượng chất của sự tàn độc. Nhưng sau cuộc cách mạng chưa chắc đã có một xã hội mới tốt hơn xã hội cũ như cuộc xâm lăng 30/4/1975 ở miền Nam của miền Bắc Việt Nam.
2. Kẻ mạnh và người yếu biết ngồi lại với nhau để đàm phán tạo ra thế cân bằng mới, sẽ tạo ra một cuộc cách mạng ít tàn độc hơn, nhưng sau cách mạng chắc chắn sẽ có một xã hội hài hòa hơn, nhân bản hơn theo quy luật lượng chất của sự nhân bản. Câu chuyện này đã có ở nội chiến Hoa Kỳ, thống nhất nước Đức, và gần đây nhất và cũng gần Việt Nam nhất là Miến Điện. Tương lai có thể sẽ là ở bán đảo Triều Tiên.
 
Quy luật lượng chất, các quy luật thống nhất các mặt đối lập, và mâu thuẩn của mâu thuẩn trong duy vật luận, cùng các cặp phạm trù triết học luôn quanh quẩn quanh ta, nhưng chúng ta thường ít quan tâm vì tham vọng, vì quyền lực, và vì hám lợi, nên không quan tâm để biết làm những việc để sự cân bằng đang bị chông chênh dễ đổ.
Hiểu triết học nhưng vận dụng triết học không dễ trong đời sống, khi mà, lối mòn tư duy cảm tính lấn át tư duy phản biện và sáng tạo.
Một nền chính trị bị trói buộc vào những tham vọng, quyền lực, và hám lợi như nền chính trị ở Việt Nam lâu nay khó lòng còn đủ sáng suốt tư duy phản biện và sáng tạo của các chính khách, để biết ngồi lại với nhân dân tìm ra lối thoát, khi mà trong nhà thì dân bị chính khách xem là thế lực thù địch, trong đảng phái thì nhăm nhe trừ khử nhau, mà ngoài biên cương thì Trung cộng luôn chực chờ, rình rập, thì còn đâu sức để gầy dựng quốc gia?
Sự vận động của vật chất luôn đi đúng quy luật khoa học của tất cả các khoa học - triết học. Khi lượng tích đủ thành chất là lúc có sự thăng hoa. 
Xã hội Việt năm 1989 là một tất yếu khách quan khi quy luật lượng chất làm Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, nên phải bám váy Trung cộng.
 
Xã hội Việt hôm nay - 2016 - là một tất yếu của quy luật lượng chất, phải thăng hoa - cuộc cách mạng xã hội ắt phải xảy ra chỉ còn là thời gian.
 
"Đến với nhau là một khởi đầu; song hành cùng nhau là sự tiến bộ; làm việc cùng nhau là sự thành công." Henry Ford
 
Vấn đề còn lại là, nhân dân và các chính khách Việt theo con đường cộng sản có kịp ngồi lại với nhau để tạo thế cân bằng theo 2 quy luật còn lại: mâu thuẫn của mâu thuẫn, và thống nhất các mặt đối lập để đi lên hay không?
Nếu ngồi lại nhau được thì sẽ có cuộc đổi đời êm ái và nhân bản theo đúng khoa học triết học.
Nếu không ngồi lại với nhau được thì sẽ có cuộc tắm máu tàn bạo khác diễn ra như sự cố 30/4/1975 sau 30 năm anh em cha con chồng vợ tương tàn như người bạn lớn nói với tôi trong bài: Hai vân đề của nước Việt thời kỳ mới.
Song để ngồi lại với nhau thì ai, tổ chức nào sẽ đủ năng lực làm trung gian hòa giải? Đây là một vấn đề mà làm chính khách cần phải biết, vì trong chính trị ngoại giao hay thương trường đều cần kẻ trung gian - vận động hậu trường: lobby.
Đầu năm nói chuyện chính trị nước nhà cũng là điều thú vị. Và lần đầu tiên của những năm qua, mà đầu năm tôi viết về triết học. Có lẽ, đất nước phải có đổi thay rất lớn, nhưng tàn độc có thể chiếm phần hơn nhân bản. Nếu thế thì, quả là dân tộc Việt quá khổ đau và nhục nhằn.
Trong Phật học ta thường hay nghe các nhà sư nói 2 chữ: "Thiện tai, thiện tai!". Nó có nghĩa đúng là, nó vậy, nó phải là vậy, không thể khác được, không thể bắt mèo sủa, và chó phải ngao.
 
Nguồn:  Blog BS Hồ Hải